Những Stt hay nhất, stt buồn, stt tâm trạng, những câu nói hay về tình yêu và cuộc sống

Chuyên mục Status trên SNTV.VN nơi tổng hợp những Stt hay nhất , những Status buồn, stt tâm trạng, những câu nói hay về tình yêu và cuộc sống. Hi vọng những bài viết trên chuyên mục Status sẽ giúp quý độc giả phần nào giải tỏa khuây khỏa những lo toan bộn bề của cuộc sống hằng ngày.

Top những bài thơ Lý Bạch hay nhất tuyệt tác kinh điển

 thơ Lý Bạch

Lý Bạch - ngôi sao sáng mãi

Lý Bạch là nhà thơ nổi tiếng trong nền văn học Trung Quốc đương thời. Không giống với Đỗ Phủ, hồn thơ Lý Bạch thích phóng túng, viễn vông, không muốn động chạm đến thế thái nhân tình mà thường mang tính hoài cổ. Kho thơ văn đồ sộ với hơn 20.000 bài là tài sản quý giá mà ông để lại cho đời. Chùm thơ hay nhất của Lý Bạch mà Sntv.vn sưu tầm dưới đây hy vọng bạn sẽ yêu thích

Bài 1: Tĩnh dạ tư

Bài 1: Tĩnh dạ tư

Ngắm trăng nhớ cố hương

Sàng tiền minh nguyệt quang

Nghi thị địa thượng sương

Cử đầu vọng minh nguyệt

Đê đầu tư cố hương.

Dịch nghĩa:   

Đầu giường ánh trăng chiếu rọi

Ngỡ là sương trên mặt đất

Ngẩng đầu ngắm trăng sáng

Cúi đầu nhớ quê cũ.

Dịch thơ

Ánh trăng chiếu sáng đầu giường

Ngỡ là mặt đất phủ sương móc dày

Ngẩng đầu ngắm ánh trăng đầy

Cúi đầu bỗng nhớ những ngày cố hương

Bài thơ ngắn chỉ gói gọn trong 20 chữ với nguồn cảm hứng chủ đạo là nỗi buồn, nỗi nhớ da diết của Lý Bạch. Trong cái không gian tĩnh lặng ấy, bốn bề vắng lặng, không một tiếng côn trùng kêu, không có một tiếng gió thổi, không một tiếng chuông chùa ngân, nhà thơ bất chợt thấy ánh trăng rọi đầu giường.

Advertisement

Cái không gian trăng ấy cùng với nỗi nhớ cố hương hòa quyện với nhau tạo thành một sự liên tưởng cảm động, chấp cánh cho hồn thơ bay bổng. Nhà thơ đã rất tinh tế khi lấy hình ảnh ánh trăng để thể hiện tâm trạng nhớ quê nhà của mình.

Bài 2: Nguyệt dạ giang hành ký Thôi viên ngoại Tông Chi

Lý Bạch và những chuyến đi

Lý Bạch và những chuyến đi

Phiêu phiêu giang phong khởi

Tiêu táp hải thụ thu

Advertisement

Đăng lô mỹ thanh dạ

Quải tịch di khinh chu

Nguyệt tùy bích sơn chuyển

Thủy hợp thanh thiên lưu

Diểu như tinh hà thượng

Advertisement

Đán giác vân lâm u

Quy lộ phương hạo hạo

Tồ xuyên khứ du du

Đồ bi huệ thảo yết

Phúc thính lăng ca sầu

Ngạn khúc mê hậu phố

Sa minh hám tiền châu

Hoài quân bất khả kiến

Lưu viễn tăng ly ưu.

Bài 3: Nguyệt hạ độc chước kỳ 1

Bài 3: Nguyệt hạ độc chước kỳ 1

Uống rượu một mình

Hoa gian nhất hồ tửu,

Độc chước vô tương thân.

Cử bôi yêu minh nguyệt,

Đối ảnh thành tam nhân.

Nguyệt ký bất giải ẩm,

Ảnh đồ tùy ngã thân.

Tạm bạn nguyệt tương ảnh,

Hành lạc tu cập xuân.

Ngã ca nguyệt bồi hồi,

Ngã vũ ảnh linh loạn.

Tỉnh thì đồng giao hoan,

Tuý hậu các phân tán.

Vĩnh kết vô tình du,

Tương kỳ mạc Vân Hán.

Dịch nghĩa

Trong đám hoa với một bình rượu

Uống một mình không có ai làm bạn

Nâng ly mời với trăng sáng

Cùng với bóng nữa là thành ba người

Trăng đã không biết uống rượu

Bóng chỉ biết đi theo mình

Tạm làm bạn với trăng và bóng

Hưởng niềm vui cho kịp với ngày xuân

Ta hát trăng có vẻ bồi hồi không muốn đi

Ta múa bóng có vẻ quay cuồng mê loạn

Lúc tỉnh cùng nhau vui đùa

Sau khi say thì phân tán mỗi một nơi

Vĩnh viễn kết chặt mối giao du vô tình này

Cùng nhau ước hẹn lên trên Thiên hà gặp lại

Trăng và rượu là hai hình ảnh xuất hiện nhiều trong thơ Lý Bạch. Bộ 3: trăng, thơ, rượu luôn được xem là người bạn tri kỷ của nhà thơ này. Bài thơ thể hiện rất rõ mối tình thân thiết ấy, là chủ đề giúp hồn thơ Lý Bạch cất cánh phiêu du

Bài 4: Bả tửu vấn nguyệt

Bài 4: Bả tửu vấn nguyệt

Rượu và trăng

Thanh thiên hữu nguyệt lai kỷ thì,

Ngã kim đình bôi nhất vấn chi!

Nhân phan minh nguyệt bất khả đắc,

Nguyệt hành khước dữ nhân tương tuỳ.

Kiểu như phi kính lâm đan khuyết,

Lục yên diệt tận thanh huy phát

Đãn kiến tiêu tòng hải thượng lai,

Ninh tri hiểu hướng vân gian một.

Bạch thố đảo dược thu phục xuân,

Thường nga cô thê dữ thuỳ lân.

Kim nhân bất kiến cổ thì nguyệt,

Kim nguyệt tằng kinh chiếu cổ nhân.

Cổ nhân kim nhân nhược lưu thuỷ,

Cộng khan minh nguyệt giai như thử.

Duy nguyện đương ca đối tửu thì,

Nguyệt quang thường chiếu kim tôn lý.

 

Dịch nghĩa

Trời xanh có vầng trăng đã bao lâu rồi?

Nay ta ngừng chén hỏi trăng đây!

Người thường không thể vin với được vầng trăng sáng,

Trăng đi đâu thì vẫn cứ theo người.

Ánh sáng trắng như gương vút tận cửa son,

Khói biếc tan đi hết, để lộ vẻ trong trẻo lan tỏa ra.

Chỉ thấy ban đêm trăng từ biển tới,

Nào hay sớm lại tan biến giữa trời mây.

Thỏ trắng giã thuốc mãi thu rồi lại xuân,

Thường Nga lẻ loi cùng ai bầu bạn?

Người ngày nay không thấy bóng trăng xưa.

Trăng nay thì đã từng soi người xưa.

Người xưa nay tựa như giòng nước chảy,

Cùng ngắm vầng trăng sáng như vậy đó.

Chỉ mong trong lúc ca say trước cuộc rượu,

Ánh trăng cứ mãi sáng soi vào chén vàng.

Bài 5: Thanh bình điệu kỳ 1

Dương Quý Phi trong thơ Lý Bạch

Dương Quý Phi trong thơ Lý Bạch

Vân tưởng y thường, hoa tưởng dung,

Xuân phong phất hạm, lộ hoa nùng.

Nhược phi Quần Ngọc sơn đầu kiến,

Hội hướng Dao Đài nguyệt hạ phùng.

Dịch nghĩa

Nhìn mây nhớ đến xiêm áo, thấy hoa nhớ đến dung nhan,

Gió xuân thổi nhẹ qua hiên, sương hoa nồng nàn.

Nếu không phải người ở mé núi Quần Ngọc,

Thì cũng là thấy ở dưới trăng chốn Dao Đài.

Đây là bài thơ hay viết về Dương Quý Phi, người phụ nữ đẹp sắc nước hương trời được sự sủng ái của Đường Minh Hoàng Lý Long Cơ. Vẻ đẹp của người đàn bà này đã trở thành đề tài trong thơ văn Lý Bạch

Bài 6: Quân hành

Lưu mã tân khoa bạch ngọc an,

Chiến bãi sa trường nguyệt sắc hàn.

Thành đầu thiết cổ thanh do chấn,

Hạp lý kim đao huyết vị can.

Dịch nghĩa

Ngựa hoa lưu mới cưỡi, yên cẩn ngọc trắng,

Sa trường sau cuộc chiến mặt trăng sắc lạnh lẽo.

Ở đầu thành tiếng trống sắt như còn vang động,

Đao mạ vàng trong bao còn chưa khô máu quân thù.

Bài 7: Thục đạo nan

Bài 7: Thục đạo nan

Bài thơ Thục đạo nan

Y hu hy

Nguy hồ cao tai

Thục đạo chi nan, nan ư thướng thanh thiên

Tàm Tùng cập Ngư Phù

Khai quốc hà mang nhiên

Nhĩ lai tứ vạn bát thiên tuế

Bất dữ Tần tái thông nhân yên

Tây đương Thái Bạch hữu điểu đạo

Khả dĩ hoành tuyệt Nga My điên

Địa băng sơn tồi tráng sĩ tử

Nhiên hậu thiên thê thạch sạn phương câu liên

Thượng hữu lục long hồi nhật chi cao tiêu

Hạ hữu xung ba nghịch chiết chi hồi xuyên

Hoàng hạc chi phi thượng bất đắc quá

Viên nhứu dục độ sầu phan viên

Thanh Nê hà bàn bàn

Bách bộ cửu chiết oanh nham loan

Môn Sâm lịch Tỉnh ngưỡng hiếp tức

Dĩ thủ phủ ưng toạ trường thán

Vấn quân tây du hà thời hoàn

Uý đồ sàm nham bất khả phan

Đãn kiến bi điểu hào cổ mộc

Hùng phi tòng thư nhiễu lâm gian

Hữu văn tử quy đề dạ nguyệt, sầu không san.

Thục đạo chi nan nan ư thướng thanh thiên

Sử nhân thính thử điêu chu nhan

Liên phong khứ thiên bất doanh xích

Khô tùng đảo quái ỷ tuyệt bích

Phi suyền bộc lưu tranh huyên hôi

Phanh nhai chuyển thạch vạn hác lôi

Kỳ hiểm dã nhược thử

Ta nhĩ viễn đạo chi nhân

Hồ vi hồ lai tai

Kiếm Các tranh vanh nhi thôi ngôi

Nhất phu đang quan

Vạn phu mạc khai

Sở thủ hoặc phi thân

Hoá vi lang dữ sài

Triều tị mãnh hổ

Tịch tị trường xà

Ma nha doãn huyết

Sát nhân như ma

Cẩm thành tuy vân lạc

Bất như tảo hoàn gia

Thục đạo chi nan nan ư hướng thanh thiên

Trắc thân tây vọng trường tư ta

Dịch nghĩa

Ôi,

Nguy hiểm thay, cao thay!

Đường Thục khó, khó hơn lên trời xanh.

Các vua Tàm Tùng và Ngư Phù

Ở chốn xa xôi biết bao!

Từ đó đến nay, đã bốn vạn tám nghìn năm,

Mới thông suốt với chỗ có khói người ở ải Tần.

Phía tây là núi Thái Bạch có đường chim bay,

Có thể vắt ngang đến tận đỉnh núi Nga Mi.

Đất lở, núi sập, tráng sĩ chết,

Rồi mới có thang trời, đường đá móc nối liền nhau.

Phía trên có ngọn cao sáu rồng lượn quanh mặt trời.

Phía dưới có dòng sông uốn khúc sóng xô rẽ ngược.

Hạc vàng còn không bay qua được;

Vượn khỉ muốn vượt qua, cũng buồn khi vin tới, leo trèo.

Rặng núi Thanh Nê khuất khúc biết bao!

Cứ trăm bước lại có chín khúc quặt vòng quanh núi non hiểm trở.

Đứng trên cao, tưởng chứng như mó được sao Sâm, lướt qua sao Tỉnh ngẩng trông nín thở,

Đưa tay vỗ bụng, ngồi than thở hoài.

Hỏi bạn đi chơi phía Tây, bao giờ trở lại?

Đường đi cheo leo, nguy hiểm, không với tới được.

Chỉ nghe thấy tiếng chim kêu đau thương trong hàng cây cổ thụ,

Con trống bay theo con mái, lượn quanh trong rừng.

Lại nghe thấy tiếng chim tứ quí kêu dưới bóng trăng đêm, buồn trong núi vắng.

Đường Thục khó, khó hơn lên trời xanh.

Khiến người ta nghe nói đến cảnh đó, phải héo hắt vẻ mặt trẻ trung.

Các ngọn núi liền nhau, cách trời không đầy một thước.

Cây thông khô vắt vẻo tựa vào vách đá cao ngất.

Nước bay, thác chảy đua tiếng ào ào.

Đập vào sườn núi, rung động đá, muôn khe suối vang ầm như sấm.

Đường Thục hiểm trở là như thế!

Thương thay cho các bạn, những người đi đường xa,

Tại sao đến nơi đây?

Miền Kiếm Các cheo leo, chót vót!

Chỉ một người canh giữ ải,

Đến muôn người cũng không mở nổi.

Những kẻ giữ ải có thể không phải là người thân,

Lại biến đổi thành ra loài sài lang.

Còn những người đi đường thì ban sáng phải lánh cọp dữ,

Buổi tối phải tránh rắn dài;

Bọn chúng mài nanh, hút máu,

Giết hại người nhiều như cây gai.

Thành Cẩm Quan tuy rằng có vui,

Nhưng sao bằng sớm trở về nhà.

Đường Thục khó, khó hơn lên trời xanh.

Nghiêng mình trông sang phía tây, than thở hoài.

Bài 8: Cổ ý

Cổ Ý - bài thơ nổi tiếng trong đời thơ Lý Bạch

Cổ Ý - bài thơ nổi tiếng trong đời thơ Lý Bạch

Quân vi nữ la thảo,

Thiếp tác thố ti hoa.

Khinh điều bất tự hành,

Vị trục xuân phong tà.

Bách trượng thác viễn tùng,

Triền miên thành nhất gia.

Thuỳ ngôn hội diện dị,

Các tại thanh sơn nha (nhai).

Nữ la phát hinh hương,

Thố ty đoạn nhân trường.

Chi chi tương củ kết,

Diệp diệp cánh phiêu dương.

Sinh tử bất tri căn,

Nhân thuỳ cộng phân phương.

Trung sào song phỉ thuý,

Thượng túc tử uyên ương.

Nhược thức nhị thảo tâm,

Hải triều diệc khả lường.

Dịch nghĩa

Chàng là loài cỏ nữ la

Thiếp là loài hoa thố ti

Cành nhỏ nhắn không thể tự đi

Nghiêng ngả theo gió xuân

Gởi thân nơi cây tùng trăm trượng xa xôi

Lâu ngày thành chung một nhà

Ai bảo gặp nhau đã dễ

Mỗi bên ở một bên sườn núi xanh

Cỏ nữ la toả mùi thơm ngát

Hoa thố ti làm người ta đứt ruột

Cành cành kết lại với nhau chằng chịt

Lá lá phất phơ theo gió

Sinh con chẳng biết đến rễ

Nhờ ai mà cùng thơm

Bên trong là tổ phỉ thuý

Bên trên đôi uyên ương đậu

Ví như biết được tấm lòng của hai loài cỏ ấy

Thì có thể đo được nước triều ở biển.

Thơ Lý Bạch thường làm theo lối cổ phong nên được nhiều người yêu thích. Sự nghiệp thơ văn của ông mãi được người đời ca tụng và gìn giữ. Nếu bạn yêu thích hồn thơ của nhà thơ này, đừng quên thưởng thức những bài thơ hay mà Sntv.vn gửi tặng

Advertisement

Bình Luận ( 0 )

    Để lại Bình Luận của bạn

    Đánh giá

      
    Advertisement

    Advertisement